Nên thợ, nên thầy nhờ có học. No ăn, no mặc bởi hay làm. (Nguyễn Trãi) Tri thức là quyền lực. (P. Bacon - Anh) Kẻ sĩ cần nhất phải có chí khí cao và kiến thức cho rộng. (Bùi Hạnh Kiệm - Trung Quốc) Trong tài năng thì có một phần ba là bản tính, một phần ba là tri thức và một phần ba là ý chí. (D.Đô-xki) Trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và tâm hồn năng động, đó chính là thiên tài. (Denis Diderot) Sách là bút tích thiêng liêng của tinh thần nhân loại. (M. Gorki) Sách là con tàu tư duy vượt qua sóng nước thời gian và trân trọng chở những hàng hóa quý giá từ thế hệ này sang thế hệ khác. (P. Bacon) Sách chắp cánh cho con người. (F. Golacop) Một cuốn sách tốt là tác phẩm cực kỳ quý do trí tuệ cao cả của con người tạo nên. Nó dường như được gìn giữ một cách thiêng liêng như kho báu lớn đối với cuộc sống. (D. Milton) Sách là nguồn kiến thức của con người và do đó, cũng là nguồn sức mạnh của con người. Trong cuộc đời, người nào đọc nhiều, hiểu rộng có thể làm được nhiều hơn nhiều so với người nào lạc h (Mayakovski) Sách là những con tàu tư tưởng lênh đênh trên các lớp sóng thời gian và trân trọng chuyên chở thứ hàng quý báu của mình hết thế hệ này sang thế hệ khác. (P. Bacon) Sách không nên giữ gìn quá cẩn thận như bộ cánh mới, không nên để lạnh cứng như hồ cồn. Sách phải được sử dụng như một dụng cụ cầm tay vậy. (S. Eisenstein) Đọc sách là cách học tốt nhất. (Pushkin) Sách là người bạn tốt nhất. Gặp khó khăn gì trong cuộc sống ta cũng có thể nhờ cậy sách. Sách không bao giờ phản bội. (A.Dodé) Sách là người bạn chân tình và sáng suốt. Nó chỉ cho bạn con đường đúng đắn, nó giữ cho bạn khỏi lầm lạc. Có sách bên mình thì cả trong thời thơ ấu, cả giữa lúc thanh niên và cả khi đã về già (V. Va-xi-lép-xcai-a) Bạn hãy học cách tôn trọng sách. Bạn hãy nhớ rằng sách là do con người tạo ra, vì vậy bạn tôn trọng sách cũng chính là bạn tôn trọng con người. (Gh. Ta-xtê-ven) Sách là cây đèn thần soi sáng cho con người trên những nẻo đường xa xôi nhất và tăm tối nhất của cuộc đời. (A.U. Pít) Sách là người bạn tốt nhất của tuổi già, đồng thời là người chỉ dẫn tốt nhất của tuổi trẻ. (X. Xmai-xơ) Đọc sách là nuôi dưỡng trí tuệ. (M. Xê-Xlê-ca) Ai không có mục đích thì không thể tìm thấy niềm vui trong bất kỳ công việc gì. (G. Lê-ô-pác-đi -Ý)
 
CHỦ Đề Sách


BỘ LUẬT LAO ĐỘNG
BỘ LUẬT LAO ĐỘNG

Mã số: LLĐ007-ĐNA

Tình trạng: Hết hàng

Nhà xuất bản: Lao động - Xã hội

Ngày xuất bản: quý 2/2006

Đơn vị phát hành:

Số trang: 248

Kích thước: 14,5 x 20,5cm

Trọng lượng: 250g

Số quyển / 1 bộ: 1

Hình thức bìa: bìa mềm


Giá Bìa: 29.000 VNĐ

(Giảm 15 %)

Giá bán: 24.650 VNĐ

Giá USD: 1.18 USD

Số lần xem: 3740


   

Trải qua quá trình phát triển từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật về lao động ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử. Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, lao động tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội, lao động là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người. Với ý nghĩa quan trọng đó, các quan hệ về lao động luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm điều chỉnh bằng những văn bản quy phạm pháp luật...

Trải qua quá trình phát triển từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật về lao động ngày càng hoàn chỉnh, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn lịch sử.

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, lao động tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội, lao động là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người. Với ý nghĩa quan trọng đó, các quan hệ về lao động luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm điều chỉnh bằng những văn bản quy phạm pháp luật.

Đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới, năm 1994, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đã đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nó đã kế thừa và phát triển pháp luật lao động của nước ta từ năm 1945 đến thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới; thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các quan hệ lao động. Qua hơn tám năm áp dụng Bộ luật Lao động, chúng ta đã thu được những kết quả quan trọng trong việc điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ lao động trong quá trình đổi mới đất nước, thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo vệ được quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội đất nước. Tuy nhiên, với những yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và với những nội dung vừa được sửa đổi của Hiến pháp năm 1992, nhiều quy định của Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, ngày 02 - 4 - 2002, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, có hiệu lực từ ngày 01 - 01 - 2003. Sự kiện này ghi nhận một bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về lao động của nước ta trong giai đoạn hiện nay, điều chỉnh có hiệu quả các mối quan hệ lao động, thúc đẩy sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu và thực thi các quy định mới về pháp luật lao động, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội xuất bản cuốn sách “Bộ luật Lao động và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động”.

Cuốn sách gồm:

1. Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002).

2. Quy định về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động; khiếu nại, tố cáo về lao động; kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất.

 

MỤC LỤC

Lời Nhà xuất bản

Phần thứ nhất: Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi bổ sung năm 2002

Phần thứ hai: Quy định về xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động; khiếu nại, tố cáo về lao động; kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

1. Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động

2. Thông tư số 12/2005/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 01 năm 2005 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm phát luật lao động

3. Nghị định số 04/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động

4. Nghị định số 41/1995/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

5. Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

6. Thông tư số 19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 9 năm 2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ

7. Thông tư số 22/2002/TT-BTCCBCP ngày 23 tháng 4 năm 2002 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn việc xử lý cán bộ, công chức, cán bộ trong doanh nghiệp nhà nước vi phạm việc cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp

Bình luận
Tiêu đề:   
Nội dung:   
Email:   
  



Chưa có bình luận nào ...

Sách cùng chủ đề




Số Lượt Truy Cập

23.960.189

Đang online: 230

Thành viên: 229.319